Cây giống có Tinh Dầu

Những loài cấy có tiềm năng khai thác tinh dầu ở Việt Nam (Phần I)

Thứ Ba - 03/07/2018 | 19

Đất nước chúng ta được mệnh danh là một đất nước giàu có “ rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu”. Vì vậy nguồn tài nguyên thực vật ở nước ta rất phong phú đặc biệt là thực vật có tinh dầu rất nhiều chủng loại có khả năng khai thác tinh dầu mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước cũng như người dân. Dưới đây là một số lại thực vật có tinh dầu có tiềm năng ở nước ta.

  1. Húng quế  (tên khoa học: Ocimum basilicum)

Là một loài rau thơm đa niên thuộc họ Hoa môi. Cây cao chừng 0,3m, lá rậm, xanh thẫm, mùi vị nồng. Ở một số nơi trên thế giới, húng quế được dùng làm gia vị.

Ở Việt Nam thuộc loài húng phổ biến vùng Đông Nam Á (nhiều người cho rằng cây có gốc xuất xứ từ Trung Quốc và Ấn Độ, thường được châu Âu biết đến với tên gọi húng Thái (Thai basil), và ở Việt Nam có các tên còn gọi là rau quế, é quế, húng giổi, húng dổi, húng chó hay húng lợn. Húng quế Việt Nam có mùi dịu nhẹ hơn húng quế ở châu Âu, thoảng hương vị quế.

Phần trên mặt đất có chứa tinh dầu (0,4-0,8%) (tính trên nguyên liệu tươi). Thành phần chính của tinh dầu là methyl chavicol (89-90%). Tinh dầu màu vàng nhạt, thơm nhẹ dễ chịu. Nhiều nơi trên thế giới đã trồng húng quế ở quy mô công nghiệp chủ yếu làm nguồn cây cho nguyên liệu cất tinh dầu hoặc làm chất thơm. Trong dân gian có thể lấy cây sắc uống chữa sốt; kết hợp các loại lá để đun nước tắm, nước xông làm cho ra mồ hôi; chữa đau dạ dày, ăn uống không tiêu; thông tiểu; xúc miệng và ngậm chữa đau, sâu răng. Thường sử dụng cả cành già, lá và hoa.

  1. Cây dó (Trầm hương, dó bầu, trầm dó)

Tên khoa học là Aquilaria

Bộ phận dùng: Trầm, tinh dầu trầm

Trầm (Agar wood) là sản phẩm của cây dó, được sinh ra do tác dụng của một số vi khuẩn lên cây hoặc do tác động của vết thương.

Thành phần chính của tinh dầu trầm: 2-(2-(4-methoxyphenyl)chromon 27,0%, 2-(phenylethyl)chromon, 15,0%, oxoagarospirol 5,0%, các dãn chất chromon và sesquiterpen khác.

Trầm và tinh dầu trầm là những hương liệu rất quý. Tinh dầu trầm dùng để sản xuất nước hoa thượng hạng.

  1. Cây vù hương, xá xị hay còn gọi là gù hương

Danh pháp: “Cinnamomum balansae”. Họ long não – Lauraceae là loài thực vật có hoa trong họ Nguyệt quế. Loài này được Lecomte miêu tả khoa học đầu tiên năm 1913.

* Vù hương Hà Bắc:

- Gỗ chứa tinh dầu (2,9%).

Thành phần chính của tinh dầu là safrol (96,4%).

- Lá có chứa tinh dầu (1,9%)

Thành phấn chính của tinh dấu là linalol (91,42%)

* Vù hương Vĩnh Phú

- Gỗ có chứa tinh dầu (2,47 - 2,60%)

Thành phần chính của tinh dầu là safrol (90 - 93%)

- Lá có chứa tinh dầu (3,20 - 3,56%).

Thành phần chính của tinh dầu là methyl eugenol (98%).

Thường dùng gỗ gốc để khai thác tinh dầu.

Tinh dầu Vù hương hay Xá xị, được dùng trong kỹ nghệ hương liệu (bán tổng hợp heliotropin), dùng làm hương liệu trong kỹ nghệ thực phẩm. Hiện nay do nhiều lý do, tinh dầu gỗ Vù hương thuộc mặt hàng nhà nước quản lý.

  1. Tràm trà (tên khoa học: Melaleuca alternifolia)

 Nguồn gốc ở Australia, Việt Nam đã di thực hiện trồng ở các tỉnh phía Nam.

Lá có chứa tinh dầu (1,8%). Thành phần chính là terpinen-4-ol.

Tinh dầu tràm trà có tác dụng kháng khuẩn tại chỗ, trị mụn trứng cá, giảm viêm nhiễm, trị nấm, bệnh ngoài da… trị viêm xoang.

Tinh dầu tràm trà được sử dụng rộng rãi trong sản xuất mỹ phẩm, kem đánh răng, sữa tắm, dầu gội đầu, nước súc miệng,.. bảo quản thực phẩm. Tinh dầu có chất lượng và giá trị cao, được tiêu thụ nhiều trên thị trường quốc tế.

  1. Hồi núi

Tên khoa học Illicium griffithiì Hook. et Thoms. Thuộc họ Hồi llliciaceae.

Hồi núi là một loại cây cao 8-15m. Lá hình bầu dục, không rụng, dai, nhẵn, phiến lá nguyên, dài 6-8cm, rộng 2,5-3cm, tập trung thành từng cụm 4- 5 lá một giống như mọc thành vòng giả, cuống lá dài 8-10cm. Hoa màu đỏ hồng rất đẹp, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả gồm nhiều đại mọc tỏa theo hình nan hoa, hai bên dẹt, lá noãn cụt ở phía gốc, đầu có mỏ hẹp và dài bằng lá noãn đầu cong lên giống như chiếc liềm.

Cây hồi núi mọc hoang rải rác ở nhiều vùng trong Việt Nam: Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Hoà Bình, vùng Tây Bấc và trên dãy núi Trường Sơn.

Quả có chứa tinh dầu (1,5%)

Thành phần chính là safrol (77,5%).

- Lá có chứa tinh dầu ( 3%

Thành phần chính của tinh dầu là safrol (Lạng Sơn, Nghệ An), hoặc safrol và methyl eugenol (Lạng Sơn, loại cuống hoa dài), hoặc linalol và safrol (Ninh Bình).

- Rễ có chứa tinh dầu.

Thành phần chính của tinh dầu là safrol (70%).

Thành phần hoá tinh dầu rất khác nhau, nhưng có một điểm chung là tinh dầu các loài hồi núi hoàn toàn không có chứa anethol.

  1. Màng tang hay sơn kê tiêu

Danh pháp hai phần: Litsea cubeba là cây bụi hoặc thường xanh, cao 5-12m, thuộc họ Nguyệt quế. Đây là loài bản địa của Đông Nam Á và Trung Quốc. Lá và quả màng tang dùng để chiết tinh dầu, nhưng tinh dầu lá màng tang chất lượng thấp. Gỗ màng tang có thể làm đồ nội thất, mỹ nghệ. Một số bộ phận của cây được dùng làm thuốc.

Quả chứa tinh dầu (trên 6%). Thành phần chính của tinh dầu quả là citral (65%). Tinh dầu màng tang chủ yếu được sản xuất tại Trung Quốc với sản lượng ước tính 500 - 1.500 tấn mỗi năm. Loại tinh dầu này được dùng làm chất thơm, ví dụ trong xà phòng bánh. Đây cũng là một nguồn nguyên liệu trong công nghiệp hóa chất để tổng hợp vitamin A và một số chất khác.

  1. Vương tùng

Tên khác: Củ khỉ, hồng bì núi, sơn hoàng bì, cây sọ khỉ, cây ton, xi hắc (H' Mông). Họ: Cam (Rutaceae).

Cây nhỏ hay cây nhỡ, cao 3 - 4 cm. có khi hơn. Vỏ thân có nốt sần. Cành non màu đỏ tím. Là kép mọc so le, gồm 5 -7 lá chét dày, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 2 - 3,5 cm, gốc gần tròn, đầu thuôn nhọn, mép nguyên hoặc có răng cưa rất nhỏ, gân lá 5 - 7 đôi. Soi lá lên thấy những chấm nhỏ, đó là những túi tinh dầu.

Ở Việt Nam, chi Clausena Burnt f. có thể có 4 - 5 loài, trong đó có cây vương tùng, mới phát hiện ở một số điểm thuộc tỉnh Thanh Hóa (huyện Hà Trung, Nga Sơn, Đông Sơn), Ninh Bình (Đồng Giao, Hoa Lư) Hà Nam và ở đảo Cát Bà (Hải Phòng).

Lá và cành vương tùng chứa tinh dầu trong đó có menthon, isomenthon, limonen, p.cymen và hydroxymenthon (Lê Tùng Châu, 1992).

Hàm lượng tinh dầu cao nhất trong quả già (6%) và lá chét (5,52%). Ở cuống lá và cành, hàm lượng tinh dầu không đáng kể (0,23% và 0,11% tương ứng).

Tinh dầu có những đặc điểm: D20: 0,870 - 0,905; n^: 1,451 - 1,461; (Xp0: -31° đến -41°; chỉ số ester 5 - 8; hàm lượng carbonyl 78 - 94%.

  1. Hoàng đàn hay còn gọi tùng có ngấn

Danh pháp hai phần: Cupressus torulosa

Cây gỗ thường xanh có thể cao tới 40m. Đường kính tới 90 cm. vỏ xám nâu nứt dọc,Cành non vuông cạnh phân nhánh trên cùng mặt phẳng. lá hình vảy,nhỏ,mọc từng đôi, xít nhau và áp sát vào cành. Nón đơn tính cùng gốc: Nón đực hình trái xoan thuôn dài 5 -6mm; nón cái hình cầu hoặc trứng rộng, đường kính 1,5 –2 cm đính trên cuống ngắn 4mm. Vẩy nón 6 đôi mọc vòng, mặt vẩy hình 5 cạnh có đường gờ tỏa tròn.mỗi vảy mang 6-8 hạt. Hạt hình cầu bẹt có cánh mỏng.

Phân bố hẹp ở các dải núi đá vôi cao chót vót chạy từ Hữu Lũng, Chi Lăng, Văn Quan đến Bắc Sơn (Lạng Sơn). Hoàng đàn còn có ở Thạch An (Cao Bằng), Na Hang (Tuyên Quang), nhưng hoàng đàn tập trung lớn nhất, lượng tinh dầu nhiều nhất là ở vùng núi đá vôi Hữu Lũng (Lạng Sơn). Hoàng đàn là nguồn gen quý hiếm, loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam(1996, 2007).

Người ta dùng rễ, lá và gỗ hoàng đàn để chiết xuất tinh dầu.Tinh dầu hoàng đàn chủ yếu trong rễ và gỗ, trong lá thì ít hơn. Thành phần chính của tinh dầu Hoàng đàn là sabinen (29,34%), α-pinen (25,4%), 4-terpinen (13,91%) và γ-terpinen (5,5%). Tinh dầu hoàng đàn được sử dụng nhiều trong công nghệ mỹ phẩm đặc biệt là trong công nghiệp nước hoa. Nó có tác dụng giảm đau, chống viêm, chống nhiễm khuẩn,khử trùng …

  1. Khuynh diệp ( bạch đàn)

Tên khoa học : Eucalyptus

Thường chia bạch đàn thành 2 loại là bạch đàn lấy gỗ và bạch đàn lấy tinh dầu. Hoặc cũng có thể chia theo màu sắc thân cây : bạch đàn trắng, bạch đàn đỏ và bạch đàn cầu vồng. Dược phân bố rộng rãi trên khắp đất nước.

Lá của khá nhiều loài trong chi Bạch đàn đều có chứa tinh dầu (với hàm lượng nằm trong khoảng 0,1-3%). Tinh dầu Bạch đàn là một hỗn hợp phức tạp của nhiều monoterpenes và sesquiterpenes khác nhau, cùng với các phenol và oxit, este, rượu, ete, andehyt và keton. Thành phần này phụ thuộc vào từng loài, khu vực trồng, khí hậu, loại đất và tuổi của lá, chế độ phân bón, đồng thời còn phụ thuộc vào phương pháp tách chiết tinh dầu.

 

Tinh dầu bạch đàn có khả năng thanh lọc bầu không khí, giúp làm giảm mệt mỏi, mang đến tinh thần phấn chấn, thư thái, minh mẫn. Có khả năng hỗ trợ trong việc điều trị các bệnhường hô hấp như: hen suyễn, ho, viêm phế quản, viêm xoang...

 

BBT Hatthocvang Vietnam

Biên tập chính: Chu Quỳnh Trang – kĩ sư hóa học

 

 

 

Tags: cây có tinh dầu thực vật có tinh dầu các loại cây có tinh dầu ở nước ta
Facebook Twitter Google+

Ý kiến của bạn về chúng tôi, xin cảm ơn và mời bạn

Bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu để được rõ nghĩa hơn.